10:58 08/03/2013
Cỡ chữ

1. GDP

Kể từ khi tái lập tỉnh (năm 1992) đến nay, Bình Thuận luôn đạt tốc độ tăng trưởng khá, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) bình quân hàng năm tăng 12,3%; trong đó, GDP nhóm ngành: nông - lâm - thủy sản tăng 7,3%; công nghiệp - xây dựng tăng 19,1%; dịch vụ tăng 14,3%. GDP bình quân đầu người đến năm 2011 đạt 26,8 triệu đồng (tương đương 1.288 USD, tăng gấp 10 lần so với năm 1991). Tỷ lệ tích lũy từ nội bộ nền kinh tế từ 9,5% (năm 1991) đã tăng lên 20% (năm 2011). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, đến năm 2011, tỷ trọng nhóm ngành nông - lâm - thuỷ sản giảm còn 20,1% (năm 1991 chiếm tỉ lệ 69,2%); công nghiệp - xây dựng tăng lên 34,2% (năm 1991 chiếm tỉ lệ 7,4%); dịch vụ tăng lên 45,7% (năm 1991 chiếm tỉ lệ 23,4%).

Hệ thống điện gió ở Tuy Phong, Bình Thuận (Ảnh Thanh Dung)

Năm 2012, nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng, tổng sản phẩm nội tỉnh GDP tăng khoảng 9,51%; trong đó lĩnh vực nông - lâm - thủy sản tăng 4,92%; công nghiệp - xây dựng tăng 10,2%; dịch vụ tăng 11,92%. Cơ cấu kinh tế trong từng ngành và từng lĩnh vực tiếp tục có sự chuyển dịch tích cực. 

Bảng: Tăng trưởng GDP tỉnh Bình Thuận (Giai đoạn 2006 - 2011)

    Đơn vị tính: Triệu đồng

Năm

2006

2007

2008

2009

2010

2011

Tổng số

10.175.672

12.866.989

16.720.710

19.704.324

24.250.786

31.426.444

Nông - Lâm - Thủy sản

2.803.212

3.294.379

4.080.053

4.509.544

5.141.560

6.339.125

Công nghiệp - Xây dựng

3.433.237

4.334.312

5.719.067

6.660.260

8.237.625

10.712.042

Dịch vụ

3.939.223

5.238.298

6.921.590

8.534.520

10.871.601

14.375.277

Nguồn: Niên giám thống kê 2011, Cục Thống kê Bình Thuận

2. Tổng vốn thu hút đầu tư

Tính đến ngày 01/03/2013, tổng số dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư còn hiệu lực của tỉnh Bình Thuận là 1.096 dự án với tổng diện tích 46.505 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký là 86.780 tỷ đồng, trong đó có 94 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1.747 triệu USD.

Đến nay đã có 647 dự án đã hoàn thành đầu tư và đưa vào hoạt động kinh doanh, 145 dự án đang triển khai xây dựng, số dự án còn lại đang làm các thủ tục pháp lý về đất đai, đánh giá tác động môi trường, giấy phép xây dựng...

Tổng giá trị thực hiện các dự án viện trợ nước ngoài giai đoạn 2006 - 2011 đạt 46,7 triệu USD, năm 2012 đạt khoảng 11,9 triệu USD.

3. Kim ngạch xuất nhập khẩu

Song song với hoạt động thu hút đầu tư, trong những năm qua Bình Thuận cũng đã tập trung đẩy mạnh xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu năm 2011 đạt 290 triệu USD (năm 1991 là 7,35 triệu USD), tăng bình quân hàng năm 18,4%. Năm 2012, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 318 triệu USD, đạt 104,1% kế hoạch, tăng 7,2% so với năm trước, trong đó xuất khẩu hàng hóa đạt 229 triệu USD. Hàng thuỷ sản đạt 81,9 triệu USD, đạt 95,3% kế hoạch (giảm 5,7% so với năm 2011); hàng nông sản đạt 37,6 triệu USD, đạt 81,8% kế hoạch (giảm 6,1% so với năm 2011); hàng hoá khác 109,5 triệu USD, đạt 124,5% kế hoạch, (tăng 26,3% so với năm 2011) với một số mặt hàng chủ yếu như: hải sản đông 11.289 tấn, hải sản khô 937 tấn; nhân hạt điều 759 tấn; cao su 2.018 tấn; quả Thanh long 37.585 tấn. Nhóm hàng hóa khác vượt kế hoạch, tăng khá so với năm trước do mặt hàng dệt may (chiếm tỷ trọng trên 70%) đạt khá. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may cả năm đạt 78,4 triệu USD, đạt 140% kế hoạch, tăng 18,5% so với năm trước.

Các sản phẩm chế biến xuất khẩu của tỉnh  như: hải sản, nhân điều, thanh long, hàng may mặc tăng trưởng ổn định và có xu hướng phát triển khả quan. Thị trường xuất khẩu từng bước được mở rộng, sản phẩm hàng hóa xuất khẩu của tỉnh hiện đã xuất khẩu trực tiếp đến 45 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Số lượng doanh nghiệp tham gia xuất khẩu ngày càng nhiều, thương hiệu của một số doanh nghiệp có uy tín đã được khẳng định.

Bảng: Tổng trị giá xuất khẩu tỉnh Bình Thuận (Giai đoạn 2006 - 2011)

                                                                                                            Đơn vị tính: Nghìn USD

Năm

2006

2007

2008

2009

2010

2011

1. Tổng trị giá XK

124.535

163.153

196.209

182.645

238.997

289.542

2. XK hàng hóa

103.840

135.251

158.209

137.329

178.644

215.498

CN nặng & khoáng sản

970

1.519

1.694

2.763

2.927

2.229

CN nhẹ & Tiểu thủ CN

22.935

31.558

48.775

42.664

53.406

84.787

Nông sản

16.025

25.924

28.070

32.500

37.332

41.069

Thủy sản

63.910

76.251

79.671

59.402

84.979

87.413

3. XK dịch vụ

20.695

27.902

38.000

45.316

60.353

74.044

Nguồn: Niên giám thống kê 2011, Cục Thống kê Bình Thuận

Thanh long đang dần trở thành mũi nhọn trong xuất khẩu của Bình Thuận (Ảnh Thanh Dung)

4. Du lịch

Bên cạnh những thế mạnh đặc trưng là biển xanh, nhiều nắng, cát biển trắng hay những đồi cát đỏ trải dài trên các vùng đồi ven biển hấp dẫn du khách trong và ngoài nước, Bình Thuận còn được mệnh danh là “thủ đô resort” của Việt Nam, đã có 2 sân golf nằm cạnh bờ biển đang hoạt động. Toàn tỉnh có 210 cơ sở lưu trú đang hoạt động kinh doanh với tổng số 8.583 phòng, so với cuối năm 2011 tăng 1.042 phòng. Đã xếp hạng 145 cơ sở lưu trú với 5.775 phòng được xếp hạng từ 1 - 5 sao.

Đến thời điểm năm 2012, Bình Thuận đã có 411 dự án du lịch được chấp thuận đầu tư, với tổng vốn đăng ký đầu tư là 54.719 tỷ đồng, trong đó có 150 dự án đã đi vào hoạt động kinh doanh.

Tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch Bình Thuận khá cao và ổn định. Doanh thu từ hoạt động du lịch tăng bình quân 36,9%/năm (nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì còn 23%). Lượng khách đến tham quan nghỉ dưỡng năm 2011 là 2.800.000 lượt khách (năm 2000 là 513.000 lượt khách), tăng bình quân 16,7%/năm, trong đó khách quốc tế 260 ngàn lượt khách (năm 2000 là 53.000 lượt khách), chiếm 9,3%. Năm 2012, số lượt du khách du lịch đạt khoảng 3.140.000 lượt khách, tăng 12% so với năm 2011, trong đó khách du lịch quốc tế (đến từ 80 quốc gia trên thế giới) đạt 340.000 lượt khách, tăng 13,3%. Tổng doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 4.350 tỷ đồng, tăng 126,8% so với năm 2011. Thời gian lưu trú của khách ngày càng dài hơn, tỷ lệ du khách quay trở lại cao hơn.

Bảng: Tổng lượng khách du lịch đến Bình Thuận (Giai đoạn 2006 - 2011)

Năm

Đơn vị tính

2006

2007

2008

2009

2010

2011

Tổng lượng khách đến

Nghìn lượt

1.552

1.802

2.001

2.200

2.500

2.802

Khách trong nước

nt

1.402

1.624

1.806

1.978

2.250

2.502

Khách quốc tế

nt

150

178

195

222

250

300

Số ngày lưu trú

Nghìn ngày

1.948

2.295

2.644

2.950

3.400

3.834

Khách trong nước

nt

1.583

1.854

2.138

2.318

2.680

2.919

Khách quốc tế

nt

365

441

506

632

720

915

Nguồn: Niên giám thống kê 2011, Cục Thống kê Bình Thuận

5. Các khu công nghiệp - cụm công nghiệp

Đến nay, tỉnh Bình Thuận có 8 khu công nghiệp (KCN) đã được Chính phủ đưa vào quy hoạch, trong đó: KCN Phan Thiết (giai đoạn 1) đã thu hút đầu tư lấp đầy diện tích đất cho thuê: các KCN Phan Thiết (giai đoạn 2); KCN Hàm Kiệm I, Hàm Kiệm II đã đầu tư xây dựng hạ tầng; KCN Tân Đức và KCN Sơn Mỹ I, Sơn Mỹ 2, KCN Tuy Phong đang triển khai đầu tư. Ngoài ra, UBND tỉnh đã thành lập 21 cụm công nghiệp (CCN). Đến nay, đã có 6 cụm công nghiệp đã và đang đầu tư triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng là: CCN chế biến hải sản nam Cảng Phan Thiết, CCN chế biến hải sản Phú Hài (thành phố Phan Thiết), CCN Mê Pu, CCN Vũ Hòa (huyện Đức Linh), CCN Thắng Hải (giai đoạn 1) (huyện Hàm Tân) và CCN Nghị Đức (huyện Tánh Linh).

Từ những thế mạnh và định hướng phát triển kinh tế của Bình Thuận, các KCN - CCN trên địa bàn tỉnh tập trung ưu tiên thu hút đầu tư vào các ngành nghề chính là: công nghiệp chế biến nông, lâm, khoáng sản, sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất hàng tiêu dùng và vật liệu xây dựng tiêu thụ nội điạ và xuất khẩu như: may mặc, hàng gia dụng, điện cơ kim khí, điện tử, đồ gỗ, hoá chất - mỹ phẩm, vật liệu xây dựng và trang trí cao cấp; cơ khí chế tạo, lắp ráp phương tiện vận tải, xây dựng, sản xuất cấu kiện sắt thép; công nghiệp dệt - nhuộm, may - đan da giày; sản xuất hàng công nghiệp tiêu dùng kỹ thuật cao, công nghiệp phụ trợ cho các ngành sản xuất tiêu dùng kỹ thuật cao; các ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa mang hàm lượng chất xám cao như công nghệ vi sinh, công nghệ nanô... cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.

6. Các ngành kinh tế mũi nhọn

6.1. Công nghiệp

Các ngành công nghiệp ở Bình Thuận được phát triển theo hướng đa dạng hóa; ưu tiên các sản phẩm công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao và giá trị gia tăng lớn, chú trọng các ngành, lĩnh vực tỉnh có lợi thế về tiềm năng và vị trí địa lý kinh tế như công nghiệp năng lượng, khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng và chế biến lương thực - thực phẩm, công nghệ sinh học, công nghiệp cơ khí, chế tạo phục vụ kinh tế biển, phát triển nông nghiệp - nông thôn cùng các ngành công nghiệp bổ trợ cho Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 16,7%, đặc biệt do có thêm các nhà máy thủy điện, phong điện đi vào hoạt động nên giá trị sản xuất công nghiệp trong những năm gần đây đạt khá (từ năm 2000 đến nay bình quân tăng 20,9%/năm). Cơ cấu công nghiệp chuyển dịch theo hướng tập trung phát triển mạnh các nhóm ngành sản phẩm: năng lượng (gồm nhiệt điện, thủy điện, phong điện); thủy sản đông lạnh và chế biến; khai thác - chế biến khoáng sản, dầu khí và sản xuất vật liệu xây dựng; cơ khí, điện tử, đóng - sửa chữa tàu, thuyền đánh bắt hải sản, vận tải biển; sản xuất nước khoáng, nước giải khát, sợi, dệt, may, giày dép; chế biến nông - lâm sản và sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ…

Phấn đấu đến năm 2020, hình thành 11 KCC trên địa bàn tỉnh, gồm: Tuy Phong, Phan Thiết, Hàm Kiệm, Tân Đức, Sơn Mỹ, Kê Gà, Hàm Cường, Ba Đăng, Tân Hải, Tân Phúc, Phan Rí Cửa. Từng bước xây dựng các CCN quy mô 75 - 100 ha ở các huyện, phấn đấu đến năm 2020 mỗi huyện, thị xã có 2 - 3 CCN tập trung. 

6.2. Nông - lâm - ngư nghiệp 

Bình Thuận đang hướng tới phát triển nông - lâm - ngư nghiệp kết hợp theo hướng sinh thái bền vững, sản xuất hàng hóa, hiệu quả cao gắn với thị trường và phát triển ngành nghề, xây dựng nông thôn mới. Trong đó, ngư nghiệp sẽ tập trung phát triển khai thác xa bờ và nuôi trồng thủy, hải sản; đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng nghề cá; xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng nghề cá, tập trung vào các cảng cá (Phan Thiết, Phú Quý, La Gi, Phan Rí Cửa) và các khu neo đậu tàu, thuyền tránh bão (Liên Hương, Chí Công, Phan Rí Cửa, Mũi Né, Phú Hải, Ba Đăng, La Gi và Phú Quý). Kết hợp chặt chẽ giữa khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản; phấn đấu tốc độ tăng trưởng của ngành giai đoạn 2011 - 2020 đạt bình quân 7,0 - 8,0%/năm, đến năm 2020, sản lượng khai thác đạt 190.000 tấn và nuôi trồng đạt 30.000 tấn.

Trong nông nghiệp, sẽ đầu tư phát triển nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa các loại cây trồng, vật nuôi gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ phù hợp với những lợi thế của địa phương và yêu cầu của thị trường. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao tỷ trọng giá trị sản phẩm ngành chăn nuôi, tăng các loại nông sản hàng hóa có lợi thế của tỉnh. Trên cơ sở phát huy lợi thế, hình thành một số vùng sản xuất tập trung chuyên môn hóa các loại cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả (điều, cao su, cà phê, thanh long...) và chăn nuôi đại gia súc (bò, dê...).

6.3. Du lịch

Tập trung phát triển du lịch thành một ngành kinh tế có đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế của tỉnh, duy trì tăng trưởng doanh thu du lịch bình quân cả thời kỳ đạt 16 - 18%/năm, tăng trưởng về lượt khách du lịch bình quân 10 - 12%/năm. Trong đó phát triển mạnh du lịch quốc tế, lấy du lịch quốc tế làm động lực thúc đẩy du lịch nội địa và các ngành dịch vụ phát triển.

Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, trong đó tập trung vào du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, giải trí và thể thao, du lịch kết hợp với hội nghị, hội thảo. Đẩy mạnh xúc tiến và tiếp thị du lịch, xây dựng và quảng bá thương hiệu du lịch Bình Thuận ra thị trường thế giới, tìm kiếm mở rộng thị trường mới. Xây dựng các khu du lịch trọng điểm tại Tiến Thành - Phú Hài - Mũi Né - Hòn Rơm - Hoà Thắng - Bình Thạnh - Vĩnh Hảo, Thuận Quý - Kê Gà - La Gi... một số khu, điểm du lịch tầm cỡ quốc tế, có khả năng cạnh tranh với một số trung tâm du lịch biển lớn của các nước trong khu vực. Đầu tư phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng, dịch vụ phục vụ du lịch. Tổ chức các tuyến du lịch và nối các tuyến du lịch trong tỉnh với các tuyến du lịch của cả nước. Từng bước nâng cao tiêu chuẩn của ngành du lịch ngang tầm quốc tế.

6.4. Phát triển các ngành dịch vụ

Bên cạnh các mũi nhọn công nghiệp, du lịch, nông - lâm - ngư nghiệp, Bình Thuận còn chú trọng phát triển các ngành dịch vụ nhằm tạo tiền đề quan trọng để phát triển các ngành kinh tế khác. Trong đó, tập trung phát triển các ngành dịch vụ chủ yếu:

- Dịch vụ vận tải: Tập trung xây dựng đội tàu vận tải biển và các phương tiện vận tải phục vụ các trung tâm nhiệt điện và sản xuất bauxite-nhôm. Tăng cường phát triển vận tải hàng hoá và hành khách giữa đất liền và đảo Phú Quý. Phát triển mạnh dịch vụ logistic tổng hợp.

- Thương mại và kinh doanh xuất nhập khẩu: Tập trung củng cố mạng lưới thương nghiệp trên toàn tỉnh, xây dựng các trung tâm thương mại - dịch vụ hiện đại tại thành phố Phan Thiết và thị xã La Gi. Hoàn thiện mạng lưới chợ, đặc biệt là các chợ trung tâm thành phố Phan Thiết, thị xã La Gi và các huyện lỵ. Hình thành chợ đầu mối hải sản tại phía nam thành phố Phan Thiết. Về xuất khẩu, chuyển dịch theo hướng tăng các sản phẩm công nghiệp chế biến có giá trị gia tăng cao. Nghiên cứu quy hoạch xây dựng trung tâm giao dịch thương mại quốc tế tại thành phố Phan Thiết.

- Phát triển các ngành dịch vụ khác như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ tư vấn, công nghệ thông tin và phần mềm, nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, cung ứng vật tư kỹ thuật phục vụ sản xuất nông, ngư nghiệp v.v… đáp ứng nhu cầu và phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh trong từng thời kỳ phát triển.

7. Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Thuận đặt ra mục tiêu tổng quát là “Xây dựng và phát triển Bình Thuận đến năm 2020 trở thành một tỉnh công nghiệp - dịch vụ theo hướng hiện đại, năng động. Cơ sở hạ tầng hiện đại, đồng bộ liên thông với cả nước và quốc tế. Quan hệ sản xuất tiến bộ, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao”. Trong đó, chú trọng một số mục tiêu cụ thể:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) giai đoạn 2011 - 2015 đạt bình quân khoảng 13,0 - 14,3%/năm và giai đoạn 2016 - 2020 đạt bình quân khoảng 12,0 - 12,8%/năm. GDP/người năm 2015 tăng khoảng 1,78 lần so với năm 2010 và năm 2020 tăng khoảng 1,7 lần so với năm 2015.

- Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Phấn đấu đến năm 2015 tỷ trọng trong GDP của công nghiệp - xây dựng đạt 45,6%, nông - lâm - ngư nghiệp đạt 12,8%, dịch vụ đạt 41,6%; đến năm 2020 đạt tương ứng: 47,72%, 7,83% và 44,45%.

- Tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước (không kể thuế tài nguyên dầu khí) so với GDP giai đoạn 2011 - 2015 đạt khoảng 16 - 17% và giai đoạn 2016 - 2020 đạt khoảng 18 - 20%.

- Kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2011 - 2020 tăng bình quân khoảng 17 - 18%/năm. Phấn đấu kim ngạch xuất khẩu đến năm 2015 đạt khoảng 480 - 500 triệu USD và năm 2020 đạt khoảng trên dưới 1 tỷ USD.

- Tăng cường thu hút, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng. Phấn đấu tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2011 - 2015 đạt 44 - 46% GDP và giai đoạn 2016 - 2020 đạt 40 - 42% GDP…


Tài liệu tham khảo

- Cục Thống kê Bình Thuận, Niên giám thống kê 2011, Nxb. Thống kê, 2012.

- Sở Kế hoạch - Đầu tư Bình Thuận, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Bình Thuận đến năm 2020, Bình Thuận, 2012.

- UBND tỉnh Bình Thuận, Báo cáo tổng quan 20 năm đổi mới và phát triển Bình Thuận, Bình Thuận, 2012.

- http://www.xuctienbinhthuan.vn/Default.aspx?tabid=73

- http://vi.wikipedia.org/wiki/BinhThuan

- http://binhthuan.gov.vn

- http://dulich.baobinhthuan.com.vn

- http://www.phanthietvn.com