10:56 08/03/2013
Cỡ chữ

1. Lược sử hình thành và phát triển

Phủ Bình Thuận được lập vào năm 1697. Chúa lấy đất phía tây Phan Lang lập hai huyện An Phước và Hòa Ða. Sau đó, chúa Nguyễn Phúc Chu Sau đổi phủ Bình Thuận thành dinh Bình Thuận và lập 04 đạo: Phan Rang, Phan Thiết, Phố Hài và  Ma Ly.

Thời Nguyễn, triều Gia Long (1802 - 1820) vẫn giữ tên gọi là dinh Bình Thuận dinh, sang triều Minh Mạng (1820 - 1841) đổi lại là phủ Bình Thuận. Năm 1827, vua Minh Mạng lập thêm hai phủ Ninh Thuận và Hàm Thuận, và hai huyện Tuy Phong và Tuy Ðịnh. Phủ Bình Thuận được đặt thành tỉnh và giao cho quan Tuần phủ Thuận Khánh kiêm nhiệm luôn tỉnh Khánh Hòa. Năm 1888, vua Ðồng Khánh chuyển phủ Ninh Thuận vào tỉnh Khánh Hòa. Năm 1900, vua Thành Thái đặt huyện Tuy Lý và lấy huyện Tánh Linh thuộc tỉnh Ðồng Nai Thượng sáp nhập vào Bình Thuận. Năm 1905, phủ Di Linh của tỉnh Đồng Nai Thượng cũng được trích thuộc về Bình Thuận.

Thời Pháp thuộc, Bình Thuận là nơi phong trào Duy Tân được khởi sự sớm hơn mọi nơi, đánh dấu bằng sự kiện năm 1905, ba nhà chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp vào Phan Thiết, mở thư xã, diễn thuyết nhiều lân kêu gọi đồng bào ý thức tự cường, truyền bá tinh thần canh tân, phát triển công thương nghiệp.

Trước năm 1975, tỉnh Bình Thuận có các quận: Hàm Thuận, Phú Quý, Thiện Giáo, Hải Long, Hải Ninh, Hòa Ða, Tuy Phong và Phan Lý Chàm. Năm 1976, Bình Thuận được sáp nhập với tỉnh Bình Tuy ở phía nam và tỉnh Ninh Thuận ở phía Bắc thành tỉnh Thuận Hải. Đến tháng 4/1992, Thuận Hải lại chia ra thành hai tỉnh riêng: Bình Thuận và Ninh Thuận, Bình Tuy thuộc tỉnh Bình Thuận (là thị xã Lagi và huyện Hàm Tân bây giờ)…

Trước thập niên 90 của thế kỷ XX, Bình Thuận là một trong những tỉnh còn nhiều khó khăn, nền kinh tế tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; chất lượng và sức cạnh tranh nền kinh tế còn hạn chế; kết cấu hạ tầng còn thiếu, lạc hậu và chưa đồng bộ, đặc biệt là vùng nông thôn - miền núi; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, lao động còn tập trung trong nông nghiệp và ở nông thôn với tỷ lệ cao, năng suất lao động thấp; nhiều mặt xã hội còn nhiều bức xúc, đời sống một bộ phận dân cư còn thấp.

Kể từ sau khi tái lập tỉnh đến nay (tháng 4/1992), Bình Thuận đã vượt khó, vươn lên và từng bước rút ngắn chênh lệch về trình độ phát triển với các tỉnh khu vực duyên hải miền Trung và miền Đông Nam Bộ; tiềm lực kinh tế và kết cấu hạ tầng kinh tế bước đầu được củng cố, tạo tiền đề cho Bình Thuận phát triển mạnh trong những năm tới. Những bước phát triển vừa qua với các nhân tố mới như du lịch, khai thác dầu khí ngoài khơi, thủy sản, thủy điện, phong điện, nhiệt điện… đã và đang từng bước đưa Bình Thuận trở thành một cực phát triển mới của khu vực Nam Trung Bộ.

2. Di sản văn hóa

Trên địa bàn tỉnh Bình Thuận hiện có 26 di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia, 24 di tích cấp tỉnh và hàng trăm di tích và danh lam thắng cảnh nổi tiếng.

2.1. Văn hóa vật thể

2.1.1. Di tích, bảo tàng

- Các di tích Champa: Bình Thuận có bề dày lịch sử, văn hoá lâu đời, nhất là văn hóa Champa với các di tích như: nhóm đền tháp Po Sah Inư, đền thờ Po Klong Mơhnai và hơn 100 bảo vật hoàng tộc Chăm nguyên gốc quý hiếm được bà Nguyễn Thị Thềm, hậu duệ vua Chăm lưu giữ ở huyện Bắc Bình, trong đó có vương miện, áo bào, hia hài, vòng xuyến của vua và hoàng hậu.

 Nhóm đền tháp Pô Sah Inư tọa lạc trên đồi Bà Nài (xã Phú Hải, thành phố Phan Thiết) cách trung tâm thành phố Phan Thiết chừng 7km về phía đông bắc. Nhóm đền tháp này được người Chăm xây dựng từ vào cuối thế kỷ VIII - đầu thế kỷ IX. Theo phân loại của các nhà nghiên cứu văn hóa - mỹ thuật Champa, đây là các kiến trúc mang phong cách kiến trúc nghệ thuật Hoà Lai. Tháp Pô Sha Inư có vai trò quan trọng trong số các di tích kiến trúc Champa ở Bình Thuận, từ hình dạng kiến trúc đến kỹ thuật xây dựng và trang trí nghệ thuật trên thân tháp, các vòm cuốn, các cửa chính, cửa giả, trong lòng và lên đến đỉnh tháp. Riêng kỹ thuật xây dựng và trang trí nghệ thuật còn lại ở thân tháp đủ gợi lên yếu tố thẩm mỹ khá riêng biệt. Hàng năm tại đây vẫn có đông đảo người Chăm từ các vùng lân cận đến làm lễ cầu mưa và những nghi lễ khác liên quan đến phong tục tập quán của họ, ngoài ra các ngư dân những vùng lân cận trước khi đi biển cũng đến đây cầu xin cho những chuyến đi biển được bình yên…

- Trường Dục Thanh: Trường Dục Thanh xây dựng năm 1907, tọa lạc trên địa bàn làng Thành Đức (nay là số 39 đường Trưng Nhị, phường Đức Nghĩa, thành phố Phan Thiết) để hưởng ứng phong trào Duy Tân do các vị: Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng khởi xướng. Trường do các cụ Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh (hai người con của nhà văn nhà thơ Nguyễn Thông) thành lập. Đây là trường tư thục có nội dung giảng dạy tiến bộ nhất ở Bình Thuận lúc bấy giờ. Năm 1910 trên đường đi tìm phương cứu nước, Nguyễn Tất Thành (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) được cụ Nghè Trương Gia Mô giới thiệu đã đến Phan Thiết và dừng chân dạy học ở trường Dục Thanh. Vào khoảng tháng 2/1911, Nguyễn Tất Thành rời trường Dục Thanh và Phan Thiết vào Sài Gòn, vượt đại dương đi tìm con đường giải phóng dân tộc. Một vài năm sau, ông Nguyễn Trọng Lội qua đời, ông Nguyễn Quý Anh chuyển vào Sài Gòn, không còn người phụ trách và nhiều lý do khách quan khác nên trường đóng cửa vào năm 1912. Sau giải phóng, ngôi trường đã được phục chế lại để tỏ lòng biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ hiện nay và mai sau.

- Dinh Thầy Thím: Dinh toạ lạc giữa khu rừng dầu Bàu Cát (nay thuộc địa bàn xã Tân Tiến, thị xã Lagi), cách thành phố Phan Thiết khoảng 70km về phía đông nam. Hơn 100 năm qua, Dinh Thầy Thím trở thành nơi để nhân dân chiêm bái, hành lễ. Những năm gần đây, từ một địa điểm hành hương, kết hợp với núi rừng, bãi biển, đồi dương ở xung quanh, Dinh đã trở thành một danh thắng, một điểm du lịch nổi tiếng ở Bình Thuận. Hàng năm, nhân dân khắp nơi đến viếng mộ, thăm Dinh, nhưng đông nhất vẫn là dịp giỗ Thầy (ngày 5 tháng Giêng âm lịch) và vào dịp thu tế (từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 9 âm lịch). 

- Vạn Thủy Tú: Vạn là đền thờ thần Nam Hải (cá voi), được khai lập vào năm 1762. Đây cũng là nơi thờ thủy tổ ngư nghiệp, đồng thời là thủy tổ chung của các làng chài ở Bình Thuận. Đền thờ còn lưu giữ nhiều di sản văn hóa Hán - Nôm quý giá, tiêu biểu là 24 sắc phong do các triều vua Nguyễn ban tặng và hơn 100 bộ xương cá voi, trong đó có bộ xương cá voi xám dài 22m, được đánh giá là lớn nhất Đông Nam Á còn nguyên vẹn.

- Tháp nước Phan Thiết: Tháp nước này là biểu tượng của thành phố Phan Thiết, được khởi công xây dựng vào cuối năm 1928 và hoàn thành vào đầu năm 1934, do kiến trúc sư Hoàng thân Xuphanuvông (Lào) thiết kế, và nhà thầu Ưng Du đảm trách xây dựng. Nằm ở vị trí trung tâm thành phố, bất kỳ đâu trong khu vực nội thành đều có thể nhìn thấy tháp nước. Đi cùng với lịch sử thành phố Phan Thiết, tháp nước đã tồn tại gần 80 năm, “chứng kiến” bao sự đổi thay của mảnh đất này.

2.1.2. Danh lam thắng cảnh

 - Chùa núi Tà Cú: Núi Tà Cú (nay thuộc địa bàn thị trấn Thuận Nam, huyện Hàm Thuận Nam) cách thành phố Phan Thiết khoảng 30 km về phía đông nam. Trên núi có ngôi chùa được xây dựng từ năm 1897 nhưng trước đó nhiều năm đã có chùa thờ Phật bằng mái tranh vách đất. Chùa do sư Trần Hữu Đức trụ trì. Nơi xây ở độ cao 457m do nhà sư chọn. Ở đó quanh năm có cây xanh, suối chảy, chim vượn ở ngay cạnh chùa. Về sau có nhiều lý do khác nhau, chùa tách thành hai, chùa cũ ở phía trên gọi là Linh Sơn Trường Thọ và chùa mới xây thêm ở phía dưới gọi là Linh Sơn Long Đoàn. Chùa núi Tà Cú nổi tiếng nhờ phong cảnh hùng vĩ, nên thơ của núi rừng, do bàn tay con người qua nhiều thế hệ thay nhau bồi đắp nên những công trình kiến trúc nghệ thuật đồ sộ. Đặc biệt là pho tượng Phật Thích Ca nhập Niết bàn tọa lạc ở vị trí cao nhất, cách chùa khoảng 100m, là pho tượng khổng lồ có một không hai trong tỉnh và các tỉnh lân cận.

- Hải đăng Kê Gà: Hải đăng nằm ở mũi Kê Gà (hoặc Khe Gà) được người Pháp xây dựng và đưa vào sử dụng từ năm 1900. Hải đăng nằm trên một hòn đảo thuộc xã Thuận Quý, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Hải đăng Kê Gà là di tích kiến trúc độc đáo được xây bằng đá hoa cương, cao 35m; bên trong hải đăng có 183 bậc thang xoáy trôn ốc bằng thép dẫn đến đỉnh hải đăng cùng hàng chục bậc tam cấp dẫn lên đến đỉnh đèn. Xung quanh chân hải đăng có hai hàng hoa sứ dọc theo lối đi do người Pháp trồng từ cuối thế kỷ trước đến nay còn nguyên, toả bóng mát quanh năm. Vật liệu xây cất được đưa từ Pháp sang, kể cả ngọn đèn trên đỉnh và máy phát điện. Hải đăng Kê Gà hiện là ngọn hải đăng cao và cổ xưa nhất Việt Nam nói riêng và vùng Đông Nam Á nói chung…

- Đảo Phú Quý: Là hòn đảo được thiên nhiên ban tặng nhiều cảnh đẹp như vịnh Triều Dương, núi Cao Cát, núi Cấm, hòn Tranh và những bãi biển như bãi Doi Dừa, bãi Nhỏ Gành Hang, bãi Lạch Chỏi… với làn nước trong xanh, cát trắng mịn trải dài theo những dãy đá huyền nham hùng vĩ, nên thơ, trên bờ có những rặng dừa, hàng dương rợp bóng. Tuy nhiên, hiện nay, các bãi biển này chưa được khai thác phục vụ du lịch nên vẫn còn rất hoang sơ…

- Hòn Rơm: Là một “tiểu khu” du lịch của Mũi Né (Phan Thiết), với cảnh quan đẹp trầm lắng, bãi tắm dài hơn 17 km, vẫn còn nguyên sơ với nước xanh trong vắt, sóng êm, không có đá ngầm. Vào mỗi buổi sáng, hoặc chiều tà, bạn có thể ngồi ngắm bình minh hay hoàng hôn, nhìn trăng lên với ánh sáng vằng vặc, lung linh và trữ tình…

Một góc thành phố Phan Thiết (Ảnh Thanh Dung)

2.2. Văn hóa phi vật thể

2.2.1. Lễ hội

- Lễ hội Dinh Thầy Thím ở Bình Thuận là một trong số ít những lễ hội phía nam được đưa vào Từ điển lễ hội Việt Nam. Hàng năm vào các ngày từ 14 đến 16 tháng 9 âm lịch, nơi đây sẽ diễn ra lễ hội nhân ngày giỗ Thầy Thím. Vào dịp này rất đông người dân địa phương và du khách đến đây để cầu sức khỏe, hạnh phúc gia đình, công việc thuận lợi… Ngoài các nghi lễ được bảo tồn, phần hội với nhiều trò chơi dân gian thu hút du khách như biểu diễn võ thuật, thi lắc thúng, gánh cá đi bộ, thi kéo co… Tất cả tạo nên không khí sôi động cho lễ hội.

- Lễ hội Katê của người Chăm được diễn ra vào ngày 1 tháng 7 lịch Chăm (vào khoảng từ cuối tháng 9, tháng 10 dương lịch) hằng năm. Đây là một lễ hội dân gian đặc sắc nhất trong kho tàng văn hoá của cộng đồng người Chăm. Lễ hội không chỉ gắn với đền tháp cổ kính, nơi lưu giữ những giá trị kỹ thuật và mỹ thuật cao nhất của nền văn hoá Chăm mà còn gắn tới lĩnh vực khác của văn hoá: đồ cúng tế, y phục, nhạc cụ; những bài thánh ca, ca ngợi các vị vua hiền có công với nước với dân. Lễ hội còn là dịp để những người tham dự được thưởng thức một nền nghệ thuật ca - múa - nhạc dân gian với phong cách độc đáo. Những người tham dự lễ hội được hoà cùng điệu múa của các cô thiếu nữ Chăm, say sưa cùng tiếng trống Ginăng, kèn Saranai. Lễ hội Katê là minh chứng về sự phong phú, đa dạng trong kho tàng văn hoá của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Lễ hội thường diễn ra trong 3 ngày trên một không gian rộng lớn, lần lượt từ đền tháp đến làng và vào từng gia đình, tạo thành một dòng chảy phong phú, đa dạng.

- Lễ hội Nghinh Ông của người Hoa ở Phan Thiết được tổ chức hai năm một lần vào các năm chẵn là một trong những lễ hội có quy mô lớn với nhiều nội dung vừa mang ý nghĩa văn hóa dân gian, thể hiện đời sống tâm linh của con người, mong ước sự bình an, hạnh phúc và về cuộc sống ấm no của cả cộng đồng; đồng thời qua đó còn biểu hiện rõ nét bản sắc văn hóa của dân tộc Hoa tại Phan Thiết. Lễ hội đã tổng hợp các sinh hoạt, về trình độ thẩm mỹ, lối ứng xử văn hóa của người Hoa đối với truyền thống dân tộc.

- Lễ hội khinh khí cầu quốc tế: Năm 2012, lần đầu tiên một lễ hội khinh khí cầu quốc tế đã được tổ chức tại Bình Thuận nói riêng và Việt Nam nói chung, thu hút được sự chú ý của đông đảo du khách trong và ngoài nước. Sự kiện này sẽ là điểm khởi đầu tiến tới xây dựng Festival khinh khí cầu quốc tế định kỳ hằng năm tại thành phố Phan Thiết.

2.2.2. Làng và nghề truyền thống

Các làng nghề truyền thống ở Bình Thuận đa dạng và phong phú, trong đó nổi bật nhất là chạm gỗ, gốm và đồ thủ công mỹ nghệ. Làng nghề mây tre lá Thái Thạch Phú ở Đức Linh, Trúc Mai ở Hàm Tân tạo ra nhiều sản phẩm mỹ nghệ khung kính, hộp bình, giỏ hoa từ nguồn lá bèo, dây chuối sứ, cọng bèo, bẹ chuối khô. Phải qua rất nhiều công đoạn như chà láng, tẩy trắng, phun keo, làm bóng, tước sợi, hấp tẩy, đan tết để làm ra các mặt hàng phong phú như mâm đựng ngũ quả, ghế ngồi, nệm lưng, giỏ xách kiểu mới… lên đường đi khắp các thị trường châu Âu, châu Á. Trong khi đó, làng nghề đan cót, xà bớ, nong nia ở Đồng Kho (huyện Tánh Linh) và làng nghề đan giỏ cá khô, cá hấp, thúng chai ở cửa biển Cồn Chà, Phan Thiết lại làm ra các sản phẩm rất quen thuộc với đời sống người lao động.

Làng dệt thổ cẩm Chăm tập trung ở hai xã Phan Hòa và Phan Hiệp (huyện Bắc Bình). Từ truyền thuyết mẹ xứ sở Pô Inư NaGar dạy cho phụ nữ Chăm nghề dệt vải để mặc và tôn vinh sắc đẹp, những người phụ nữ Chăm đến ngày nay vẫn còn lưu giữ nghề truyền thống này cùng với những khung dệt cổ truyền bằng gỗ gõ, gỗ trắc được đóng cách đây hàng trăm năm. Bên cạnh việc dệt những sản phẩm truyền thống, sản phẩn dệt thổ cẩm Chăm ngày càng được du khách ưa chuộng bởi nhiều mẫu mã bền đẹp và khá đa dạng.

Ngoài ra, các làng nghề gốm Bắc Bình, bánh tráng Chợ Lầu… cũng là những làng nghề quan trọng góp phần làm phong phú và lưu giữ văn hóa truyền thống cho đất Bình Thuận.

2.2.3. Ẩm thực

Cũng như các địa phương khác trong vùng duyên hải miền Trung, đặc trưng của ẩm thực Bình Thuận cũng bắt nguồn từ những sản vật của biển, song nó vẫn có những phong vị riêng đầy hấp dẫn. Đó là món mực một nắng ngon nổi tiếng, đem chấm chung với loại nước mắm nhỉ Phan Thiết cùng ít ớt xắt và vài giọt chanh thì thật sự cảm nhận được đầy đủ hương vị đậm đà, ngọt bùi mà biển nơi đây dâng tặng. Vùng biển quanh năm ấm áp này còn có những sản vật đặc biệt khác như cá bò hòm ngọt béo, cá mú hấp bổ dưỡng, sò điệp nướng hành mỡ thơm lừng; và thứ không thể thiếu là nước mắm Phan Thiết đậm đà khó quên đã có thương hiệu từ những năm đầu thế kỷ XIX…

Bình Thuận còn nổi tiếng với đặc sản là trái thanh long. Thanh long Bình Thuận có hai loại: ruột đỏ và ruột trắng, có vị ngọt mát, là loại trái cây xuất khẩu được ưa chuộng tại nhiều thị trường trên thế giới. Đến Bình Thuận bạn sẽ bất ngờ với hơn 20 loại món ăn khác nhau như gỏi thanh long, thanh long kho tộ, thanh long um sườn non, chè thanh long…

Nói đến ẩm thực Bình Thuận, không thể không nhắc đến các món ăn được chế biến từ con dông, một loài bò sát sinh sống tại những đồi cát quanh năm nắng nóng, gió mạnh,  nhưng thịt của chúng vừa thơm ngon, vừa bổ dưỡng. Thịt dông rất dễ chế biến, từ các món đơn giản như nướng, nấu cháo cho đến cầu kỳ như làm gỏi, xào lăn, bằm xào xả ớt. Tuy nhiên, ngon, hấp dẫn và cũng rất ấn tượng nhất lại là món dông nướng. Thịt dông nướng đậm đà vị ngọt béo, miếng thịt mềm và kích thích khẩu vị khi chấm với muối ớt, món dông nướng cũng là một nét lạ tạo nên nét hấp dẫn của ẩm thực biển Bình Thuận.

Ngoài ra, Bình Thuận còn có nhiều món ăn dân dã nhưng rất ngon là các món bánh như: bánh xèo, bánh căn, bánh canh chả cá, bánh quai vạc, bánh hỏi lòng heo, bánh tráng chợ Lầu. Không những được pha trộn thêm hương vị của một số hải đặc sản miền biển mà các món bánh này còn hấp dẫn và độc đáo với các thứ ăn kèm và loại nước mắm pha chế riêng. Thưởng thức mỗi thứ bánh để cảm nhận trọn vẹn hương vị từng loại nước chấm, du khách sẽ hiểu hơn những nét đẹp của đất và người Bình Thuận.